Chuyển đến nội dung chính

Bài đăng

Đang hiển thị bài đăng từ tháng chín, 2021

Xương rồng Ferocactus macrodiscus

  Ferocactus macrodiscus Phân loại khoa học:  Họ (Family): Cactaceae (Xương rồng) Chi/ Giống (Genus):  Ferocactus Loài (Species): macrodiscus Tên khoa học ( Scientific name/ Latin name ):  Ferocactus macrodiscus Tên thường gọi (Common name): Xương rồng Ferocactus macrodiscus Tên khác(Synonyms): Echinocactus macrodiscus,  Bisnaga macrodisca. Phân nhóm nhỏ của  Ferocactus macrodiscus: Ferocactus macrodiscus Ferocactus macrodiscus forma variegata Ferocactus macrodiscus var. septentrionalis  Hình ảnh: Ferocactus macrodiscus - cactus-art.biz Ferocactus macrodiscus - cactus-art.biz Ferocactus macrodiscus - cactus-art.biz Mô tả: Phân biệt: Chăm sóc:

Chức năng của Ni (Nickel, Niken) đối với cây trồng - Vi lượng có ích

Nickel, Niken (Ni) Nồng độ Ni trong cây thường biến động trong khoảng 0,1 – 1,0 ppm trong chất khô. Ni được cây hấp thu dễ dàng dưới dạng Ni2+.  Nickel Vai trò của Ni đối với cây trồng: Urease (EC 3.5.1.5) là metalloenzyme chứa Ni (hay Ni-binding proteins; Nickel enzymes). Urease là 1 trong 7 Ni enzymes ( urease, hydrogenase, CO-dehydrogenase, methyl-coenzyme M reductase, Ni-superoxide dismutase, glyoxalase I and cis-trans isomerase ) Urease được tìm thấy nhiều trong vi khuẩn, nấm, tảo, thực vật, một số động vật không xương sống. Urease là chất xúc tác cho phản ứng thủy phân urea (phân đạm) thành CO2 và NH3: (NH2)2CO + H2O → CO2 + 2NH3 Kết quả sẽ làm tăng pH của môi trường (do tạo NH3) Thiếu Ni trong cây trồng: Thiếu Ni sẽ làm tích tụ urea trong cây, cụ thể là ở trong lá. Kết quả của thừa urea là lá bị vàng, chết. Tuy nhiên nhu cầu Ni đối với cây trồng là rất thấp. Biển hiện thiếu Ni chỉ xảy ra khi cây trồng được trồng trong đất đặc biệt thiếu Ni (cần làm rõ hơn là loại đất nào) Thừa N

Chức năng của Silicon (Si) đối với cây trồng - Vi lượng có ích

 Silicon (Si) Silicon là nguyên tố có hàm lượng rất cao trong thạch quyển, và được cây hấp thu dưới dạng monosolicic acid Si(OH)4. Ngũ cốc và các cây họ hòa thảo chứa 0,2 – 2,0 % Si trong khi các cây hai lá mầm chỉ tích lũy 1/10 nồng độ này. Trong các cây giàu Si nồng độ này có thể lên đến 10 %. Sự liên quan của Si trong các chức năng của rễ được cho là có sự đóng góp của Si vào khả năng chống hạn của cây như trong cây cao lương. Silicon (Si) Si tham gia vào cấu trúc của màng tế bào, họ hòa thảo, cói lác tích lũy 2 – 10 % Si trọng lượng lá khô. Si thấm chủ yếu qua màng biểu bì và các mô không bào, nơi mà Si có thể làm tăng lực các mô, giảm sự mất nước và làm chậm sự lan truyền của nấm bệnh. Mặc dầu Si không có vai trò sinh hóa trong sự phát triển của cây nhưng người ta cho rằng có thể các phức enzyme – Si hình thành trong mía đường có tác dụng như là tác nhân bảo vệ hay điều chỉnh quang hợp và hoạt động của enzyme. Si cũng có thể làm tăng cường hoạt động của invertase trong mía đường,

Chức năng của V (Vanadium) đối với cây trồng - Vi lượng có ích

 Vanadium, Vanadi (V) Với nồng độ thấp của vanadium có thể có ích cho sự sinh trưởng của vi sinh vật, động vật và thực vật bậc cao. Mặc dù được xem là nguyên tố cần thiết đối với tảo lục Scenedesmus, nhưng vẫn chưa có những chứng minh rõ ràng vanadium cần thiết cho thực vật bậc cao hay không. Một số nhà nghiên cứu cho rằng vanadium có thể thay thế một phần Mo trong cố định đạm của vi sinh vật như Rhizobia. Người ta cũng đưa ra giả thuyết là vanadium có một chức năng trong các phản ứng oxy hóa khử sinh học. Sự gia tăng sinh trưởng có thể do vanadium đã được nghiên cứu trên măng tây, lúa, rau diếp, lúa mạch và cải bắp. Nhu cầu vanadium cho cây trồng < 2 ppb trong trọng lượng khô, trong khi đó nồng độ vanadium trong cây trung bình là 1 ppm.  Vanadium Lịch sử Vanadi được phát hiện năm 1801 bởi Andrés Manuel del Río, một nhà khoáng vật học Mexico sinh tại Tây Ban Nha. Del Río tách nguyên tố từ một mẫu quặng "chì đen" Mexico, sau đó được đặt tên là vanadinit . Ông phát hiện rằng

Chức năng của Na (Sodium) đối với cây trồng - Vi lượng có ích

 Sodium (Na) Là nguyên tố cần thiết cho các cây chịu mặn (halophytic), các cây này tích lũy muối trong các không bào để duy trì tính trương và sự sinh trưởng. Tính mọng nước của các cây này đôi khi gia tăng do hàm lượng Na tăng. Các cây trồng cần Na để sinh trưởng tối hảo như cây cần tây, củ cải, củ cải đường. Các ảnh hưởng tích cực  cho sự sinh trưởng của Na cũng xảy ra với bắp cải, kale, Kohlrabi, mustard và cải dầu. Sự gia tăng sinh trưởng do Na của các cây chịu mặn được cho là có liên quan đến sự gia tăng tính trương của tế bào trong cây. Sodium (Na) Cây trồng hấp thu Na dưới dạng Na+, và nồng độ Na+ trong cây rất thay đổi, từ 0,01 – 10 % trong mô lá. Các cuống lá củ cải đường thường chứa khoảng 10 % Na+. Các cây có kiểu quang hợp như chu kỳ C4 cần có Na như là nguyên tố dinh dưỡng cần thiết. Na cũng có vai trò trong việc trao đổ chất crassulacean acid (các cây họ thuốc bỏng). Thiếu Na sẽ gây ra sự thay đổi quá trình cố định CO2 của chúng từ C4 thành C3. Cung cấp Na đầy đủ  có thể

Chức năng của Cl đối với cây trồng - Vi lượng có ích

 Chloride (Cl) Chloride được cây hấp thu dưới dạng Cl- thông qua rễ và cả thân lá. Nồng độ thông thường  của chloride trong cây là 0,2 – 2,0 %, mặc dù một số cây có thể chứa đến một nồng độ chloride là 10 %. Nồng độ chloride trong cây thường cao hơn rất nhiều so với nhu cầu sinh lý của phần lớn cây trồng. Với nồng độ 0,5 – 2,0 % chloride trong mô cây của các loại cây mẫn cảm với chloride có thể làm giảm năng suất và phẩm chất cây đó. Sự giảm về năng suất và phẩm chất tương tự  cũng có thể xảy ra với các cây được cho là có khả năng chống chịu được với nồng độ chloride cao như: cải đường, lúa mạch, bắp, và cà chua khi nồng độ chloride đạt 4 %. KCl Chloride không được nhận thấy tham gia trong bất cứ chất trao đổi chất thực sự nào của thực vật bậc cao. Vai trò chủ yếu của chloride dường như là nằm trong tính chất trơ  về mặt sinh hóa của nó. Tính chất trơ về mặt sinh hóa làm cho chloride tạo ra áp lực thẩm thấu và làm vai trò trung hòa các ion, vai trò này có thể quan trọng trong các quá t

Chức năng Co (Cobalt) đối với cây trồng - Vi lượng có ích

 Cobalt (Co) Có vai trò rất quan trọng đối với vi sinh vật cố định N2. Vì thế cobalt rất cần cho sự hình thành và phát triển của nốt sần cây họ đậu, cũng như trong tảo cố định N2. Nồng độ bình thường của cobalt trong cây từ 0,02 – 0,5 ppm trong chất khô. Chỉ cần 10 ppm cobalt trong dung dịch dinh dưỡng là đủ cho sự cố định đạm của cỏ alfalfa. Cobalt Tầm quan trọng của cobalt đối với sự sinh trưởng của các vi sinh vật cộng sinh như Rhizobia, các vi khuẩn cố định đạm sống tự do và tảo lục lam là vai trò của cobalt trong sự hình thành  vitamin B12, cobalt hình thành một phức chất với các phân tử đạm trong cấu trúc porphyrin có tác dụng như là một nhóm gốc hóa học tạo điều kiện cho sự kết hợp của nucleotic trong coenzyme B12, phức cobalt này còn gọi là cobamide coenzyme. Các chức năng khác của cobalt là trao đổi chất leghemoglobin và ribonucleotide reductase trong vi khuẩn Rhizobium. Cobalt là một trong những kim loại hoạt hóa enolase succinic kinase. Sự sinh trưởng, hô hấp, và quang hợp đ

Chức năng của Kẽm (Zn) đối với cây trồng - Vi lượng

Kẽm, Zinc (Zn) Có vai trò quan trọng trong sự tổng hợp triptophan là thành phần của một số protein, là một hợp chất cần thiết cho sự hình thành các hormone tăng trưởng auxin. Các cây trồng thiếu kẽm sẽ làm giảm sự hình thành các hormone tăng trưởng làm cho các lóng ngắn lại và lá nhỏ hơn bình thường. Nồng độ kẽm trong cây khoảng từ 25 – 150 ppm. Sự thiếu kẽm thường xảy ra khi nồng độ Zn trong cây < 20 ppm, và sự ngộ độc kẽm xảy ra khi nồng độ kẽm trong lá > 400 ppm. Sphalerite Rễ hấp thu kẽm dưới dạng Zn2+ và kẽm trong các phức chất hữu cơ thiên nhiên hay tổng hợp. Các muối kẽm hòa tan và các phức chất kẽm có thể đi vào trực tiếp trong cây thông qua lá. Bắp và đậu là các cây đặc biệt rất mẫn cảm với sự thiếu kẽm, như cam quýt và các cây ăn quả khác. Các cây khác được phân loại theo sự mẫn cảm với với sự thiếu kẽm như sau, rất mẫn cảm với sự thiếu kẽm như lanh, nho củ hành, hồ đào, thông, lúa gạo và đậu nành. Một số cây mẫn cảm nhẹ như cỏ alfalfa, cỏ ba lá, bông vải, khoai tây, ca

Chức năng của Mo (Molybdenum) đối với cây trồng - Vi lượng

 Molybdenum (Mo) Là thành phần chính của Nitrate reductase (NRs), là một enzyme cần thiết cho sự biến đổi NO3- thành NO2-.  Phần lớn Mo trong cây tập trung trong enzyme này và chủ yếu tập trung ở lục lạp trong lá . Nhu cầu Mo của cây chịu ảnh hưởng rất  lớn bởi dạng N vô cơ được cung cấp cho cây, nếu N được cung cấp với dạng NO2- hay NH4+, sẽ làm giảm thực sự nhu cầu của Mo.  Mo cũng là thành phần cấu tạo của nitrogenase là enzyme tham gia cố định đạm của vi khuẩn trong nốt sần cây họ đậu, một số tảo, xạ khuẩn và một số vi sinh vật cố định đạm sống tự do như Azotobacter. Nồng độ Mo trong nốt sần cao gấp 10 lần trong lá. Mo cũng có vai trò rất quan trọng trong sự hấp thu ion và chuyển vị ion trong cây. Molypden (tiếng La tinh: molybdenum, từ tiếng Hy Lạp molybdos nghĩa là "giống như chì", trong tiếng Việt được đọc là Mô lip đen) Mo là một anion  được cây trồng hấp thụ dưới dạng ion molybdate MoO42-. Molybdate là một acid yếu và có thể hình thành các polyanions phức tạp như pho

Chức năng của Mn (Mangan, Manganese) đối với cây trồng - Vi lượng

Mangan, Manganese (Mn) Các triệu chứng thiếu Mn luôn luôn xuất hiện trên lá non, dễ gây thối rễ... Là nguyên tố vi lượng có nồng độ biến thiên từ 20 – 500 ppm trong cây. Khi nồng độ Mn  trong thân lá < 15 – 20 ppm thì có thể cây bị thiếu Mn. Cây hấp thụ Mn dưới dạng Mn2+, và một ít phức chất tổng hợp hay tự nhiên nhất định khác. Manganese sulfate Cũng như sắt, Mn là nguyên tố tương đối không di động trong cây và các triệu chứng thiếu Mn luôn luôn xuất hiện trên lá non. Trên các cây lá rộng, triệu chứng thiếu Mn thường xuất hiện dưới dạng phần thịt lá bị vàng. Sự thiếu Mn của một số cây trồng được diễn tả bằng các thuật ngữ khác nhau như lá bị đốm xám trên yến mạch, đốm vàng trên đậu, củ cải đường. Lúa mì có hàm lượng Mn thấp thường mẫn cảm với bệnh thối rễ. Có mối quan hệ giữa Mn với quang hợp, thông qua hàm lượng O2 được giải phóng. Mn cũng tham gia một phần trong các tiến trình oxy hóa khử và trong các phản ứng khử carbon và thủy phân. Mn cũng có thể thay thế Mg2+ trong nhiều phản

Chức năng của Cu (copper) đối với cây trồng - Vi lượng

 Đồng,Copper (Cu) Các triệu chứng thiếu đồng rất khác nhau trên các loại cây. Đồng được cây hấp thu dưới dạng Cu2+, và cũng được hấp thu dưới các phức chất hữu cơ tổng hợp hay tự nhiên. Nồng độ đồng trong cây thường biến thiên từ 5 – 20 ppm. Sự thiếu đồng có thể xảy ra khi hàm lượng đồng trong cây < 4 ppm trong chất khô. Chalcanthite Sự thiếu đồng trên cây đã được nghiên cứu nhiều, sự thiếu đồng phổ biến trên đất than bùn. Các cây trồng rất mẫn cảm với sự thiếu đồng như alfalfa, lúa mì lúa mạch, yến mạch, rau diếp, củ hành, carot, các cây trồng có đáp ứng cao với phân bón đồng bao gồm cỏ ba lá, bắp và các cây ăn quả. Các triệu chứng thiếu đồng rất khác nhau trên các loại cây. Lá non của bắp bị vàng và cằn cỗi, và khi sự thiếu hụt trở nên nghiêm trọng các lá này sẽ bị chết. Tiếp theo các mô chết xuất hiện dài theo chóp lá và cạnh lá tương tự như triệu chứng thiếu kali. Sự thiếu đồng trên cây ngũ cốc làm mất màu trong các lá non cuối cùng các lá non bị vỡ ra và chết, trong nhiều loại

Chức năng của Sắt, Iron (Fe) đối với cây trồng - Vi lượng

Iron, Sắt (Fe) Thiếu Fe thường xảy ra trên các cây trồng hay trên đất kiềm nhưng cũng có một số cây biểu hiện ngay trên đất chua. Cam quýt và các cây ăn quả thường có biểu hiện vàng lá do thiếu sắt. Sự thiếu Fe thường xuất hiện đầu tiên trên các lá non, có thể Fe không di chuyển từ các mô già đến đỉnh mô phân sinh do đó làm ngưng sự sinh trưởng. Giữa các gân lá của các lá non chuyển sang màu vàng sau đó phát triển nhanh trên toàn bộ lá trong trường hợp thiếu Fe nghiêm trọng lá trở nên có màu trắng hoàn toàn. Dư Fe gây ra các rối loạn về dinh dưỡng trong lúa trồng trên đất ngập nước, thoát thủy kém. Tình trạng này gọi là bệnh lá biến thành màu đồng xỉn Nồng độ Fe trong cây trồng ở mức độ đủ cho sự sinh trưởng bình thường biến thiên từ 50 – 250 ppm. Thông thường khi nồng độ Fe < 50 ppm trong chất khô thì có thể xảy ra sự thiếu Fe. Sắt được rễ hấp thu dưới dạng Fe2+ và Fe3+ và các phức Fe hữu cơ khác hay chelate Fe, nhưng chỉ có ion Fe2+ được dùng trong các quá trình trao đổi chất. Dạn

Chức năng của S (Sulfur) đối với cây trồng - Trung lượng

Sulfur, Lưu huỳnh (S), lưu hoàng, sinh diêm vàng, diêm sinh Thiếu S có thể làm đình trệ sự sinh trưởng của cây và có đặc điểm là toàn bộ cây đều bị úa vàng, cằn cỗi, thân mỏng và mảnh khảnh. Trong nhiều loại cây trồng các triệu chứng này tương tự như các triệu chứng thiếu N và chắc chắn là sẽ dẫn đến lầm lẫn trong chuẩn đoán. Tuy nhiên, không như N, S dường như không dễ dàng chuyển vị từ các bộ phận non như N, vì thế, các triệu chứng thiếu S thường xảy ra ở các lá non trước. Cây trồng hấp thu sulfua ở dạng (SO4)2-, một lượng nhỏ SO2 có thể được cấy hấp thu qua lá, nhưng nếu SO2 có nồng độ cao sẽ gây độc cho cây. Khi S nguyên tố được phun lên lá cây ăn quả sau đó được tìm thấy rất sớm một lượng nhỏ S bên trong hệ thống mạch dẫn của cây. Cơ chế thẩm thấu vào cây ở dạng S không hòa tan trong nước chưa được nghiên cứu rõ ràng. Nồng độ của sulfua trong cây biến động từ 0,1- 0,4 %. Sulfua thường có hàm lượng tương đương hay thấp hơn P trong một số loại cây như lúa mì, bắp, đậu và khoai tây n

Chức năng của Bo, Bor (Boron) đối với cây trồng - Vi lượng

 Boron, Bor (Bo) Các triệu chứng thiếu boron thường xuất hiện dưới dạng lá bị cong queo, khô héo dày lên, giống như ta dìm cây vào trong nước, có sự đổi màu nứt nẻ hay thối quả hay củ, rễ. Phần xốp xuất hiện bên trong quả táo là biểu hiện thiếu boron, và sự thiếu boron trên cam quýt gây nên sự dày không bình thường của các bướu trên quả và chất keo trong quả. Nồng độ boron trong các cây một lá mầm biến động từ 6 – 18 ppm và hai lá mầm từ 20 – 60 ppm. Hàm lượng boron trong mô lá cây trưởng thành của phần lớn cây trồng nếu > 20 ppm thường đủ cho nhu cầu sinh trưởng. Phần lớn boron được cây trồng hấp thu ở dạng boric acid không phân ly (H3BO3). Một số dạng khác cũng được cây hấp thu nhưng với một lượng thấp hơn nhiều, như B4O72-, H2BO3-, HBO32- và BO33-, nhưng thường không có ý nghĩa trong tổng boron hấp thu của cây trồng.  Kernite (Nguồn: mindat.org) Sự thiếu hụt boron rất phổ biến trong cây trồng so với các nguyên tố vi lượng khác. Rất nhiều loại cây ăn quả, rau cải và nhiều loại cây